Công nghệ mới từ Nhật

Kiến thức về hệ thống phun nhiên liệu và hiệu quả tác động của dung dịch làm sạch JASSO-BIORAY

Tăng công suất, tiết kiệm nhiên liệu và giảm thiểu khí xả độc hại vào môi trường là những vấn đề các hãng xe luôn vươn tới. Lần lượt, hệ thống phun xăng điện tử rồi phun xăng trực tiếp ra đời thay thế hoàn toàn cho bộ chế hòa khí.

Trong những động cơ hiện đại, chúng ta thường nghe tới hệ thống phun xăng trực tiếp GDI (Gasonline Direct Injection) hoặc hệ thống phun xăng điện tử EFI (Electronic Fuel Injection).

1. Vậy giữa 2 hệ thống nhiên liệu này có gì khác biệt?

Điểm khác biệt cơ bản nhất giữa GDI và EFI là vị trí của vòi phun nhiên liệu. Hệ thống GDI sử dụng vòi phun nhiên liệu trực tiếp vào trong buồng cháy với áp suất lớn, còn hệ thống EFI phun nhiên liệu bên ngoài buồng cháy - phun gián tiếp. Như vậy hệ thống GDI, hỗn hợp (nhiên liệu, không khí) sẽ hình thành bên trong buồng cháy, còn EFI, hỗn hợp sẽ hình thành bên ngoài rồi mới qua xupap nạp vào bên trong buồng cháy.

2. Hệ thống phun xăng điện tử EFI được chia làm 3 loại chính

- Hệ thống phun xăng đơn điểm (Single Point Injection - SPI): Hệ thống này chỉ dùng một vòi phun trung tâm duy nhất thay thế cho bộ chế hoà khí. Vòi phun nhiên liệu được đặt ngay trước bướm ga và tạo thành khí hỗn hợp trên đường nạp. Hệ thống có cấu tạo khá đơn giản, chi phí chế tạo rẻ, thường chỉ xuất hiện ở những xe nhỏ.

- Hệ thống phun xăng hai điểm (BiPoint Injection - BPI) được nâng cấp từ hệ phun nhiên liệu đơn điểm. Hệ thống này sử dụng thêm một vòi phun đặt sau bướm ga nhằm tăng cường nhiên liệu cho hỗn hợp. Thông thường hệ thống BPI ít được sử dụng do không cải thiện nhiều so với SPI. 

- Hệ thống phun xăng đa điểm (MultiPoint Injection - MPI): Mỗi xi-lanh được trang bị một vòi phun riêng biệt đặt ngay trước xupap. Hệ thống vòi phun được lấy tín hiệu từ góc quay trục khuỷu để xác định thời điểm phun chính xác.

Về cấu tạo của hệ thống nhiên liệu EFI hay GDI khá phức tạp, nhưng nguyên tắc cơ bản vẫn sử dụng các tín hiệu từ động cơ (qua các cảm biến) rồi xử lý tại bộ xử lý trung tâm ECU để điều chỉnh vòi phun (thời điểm, lưu lượng, áp suất).

3. Hệ thống phun nhiên liệu trực tiếp có nhiều đặc điểm của động cơ Diesel. Không sử dụng chế hòa khí hay phun nhiên liệu đa điểm, hệ thống sử dụng kim phun nằm trực tiếp trong buồng đốt của xi lanh. Có thể tóm tắt như sau: ở chu kì hút, xupap hút chỉ hút không khí, cuối hành trình này kim phun đưa 1 lượng nhiên liệu vào trộn ngay trong buồng đốt. Chu kì nén, khi píttong lên gần với đỉnh xilanh, kim phun tiếp 1 lượng nhiên liệu đồng thời buzi đánh điện đốt cháy hỗn hợp đẩy pittong xuống dưới. Chu kì cuối xupap xả mở. Như vậy, việc tách kì hút không khí tạo điều kiện cho các động cơ siêu nạp đưa nhiều không khí vào cùng với áp suất do kim phun nhiên liệu sẽ giúp áp suất cháy lên rất cao, tạo ra công suất cao hơn, tiết kiệm nhiên liệu hơn. Khó khăn duy nhất của động cơ này là việc chế tạo tay biên sẽ phải cứng hơn để chịu áp suất lớn hơn, 2 là hệ thống kim phun phức tạp hơn do chịu âp suất và muội nhiên liệu đóng két lại.

Trên thực tế, hệ thống phun xăng điện tử EFI đã xuất hiện từ những năm 1950, nhưng phải đến những năm 1980, hệ thống này mới thực sự phát triển rộng rãi tại Châu Âu. Trên những mẫu xe hiện tại vẫn sử dụng hệ thống nhiên liệu EFI, tuy nguyên lý cơ bản không thay đổi nhưng nhờ có công nghệ điện tử điều khiển phát triển đã giúp cho hệ thống này ngày càng hoàn thiện và đạt hiệu quả cao hơn rất nhiều.

Còn với hệ thống GDI thì phải tới tận năm 1996, hãng Mitsubishi mới chính thức sử dụng trên mẫu xe Galant Legnum. Đây là một bước đột phá trong lịch sử phát triển hệ thống nhiên liệu cho động cơ đốt trong. Cho dù ý tưởng sử dụng vòi phun nhiên liệu trực tiếp vào trong buồng cháy cho động cơ xăng đã có từ rất lâu nhưng do quá nhiều yếu tố chủ quan - khách quan khiến cho nhiều hãng tên tuổi phải “lùi bước”. Với việc lắp một vòi phun nhiên liệu bên trong xilanh (giống động cơ diesel) với áp suất phun cao, nhà sản xuất hoàn toàn có thể đẩy tỉ số nén của động cơ lên cao, giúp hỗn hợp không khí-nhiên liệu “tơi” hơn. Quá trình cháy diễn ra “hoàn hảo”, hiệu suất động cơ cao hơn, công suất lớn hơn, tiết kiệm nhiên liệu hơn và đặc biệt là giảm thiểu khí xả vào môi trường.

4. Hiệu quả tác động của dung dịch làm sạch kim phun – buồng đốt như thế nào?!

Riêng nhiên liệu xăng, ôtô hiện nay đa số dùng động cơ phun xăng điện tử gián tiếp (EFI) hoặc trực tiếp (GDI). Ở động cơ EFI, tác động của phụ gia và màng lọc tại vị trí đầu kim phun giữ lại tạp chất trong nhiên liệu trước khi vào buồng đốt. Tạp chất (nếu còn), nhiên liệu và không khí được hòa trộn bên ngoài trước khi qua xu-páp nạp vào trong buồng đốt.

Quá trình cháy diễn ra trọn thể tích buồng đốt. Tạp chất tham gia vào phản ứng cháy (có thể không hết hoàn toàn) và loại thải ra ngoài. Phụ gia đổ vào bình nhiên liệu giúp phản ứng cháy, sinh công của động cơ diễn ra tối ưu hơn. Trường hợp này phụ gia thể hiện mặt tích cực.

Hiệu quả sử dụng phụ gia làm sạch kim phun buồng đốt

Không như động cơ EFI, GDI có kim phun đặt bên trong buồng đốt. Áp suất cao hơn nhiều so với kim phun đặt ngoài của EFI. Ưu điểm của GDI cho phép tạo ra vị trí cháy ở không gian tối ưu nhất có thể, không nhất thiết cả thể tích buồng đốt. Nhưng điều kiện áp suất và nhiệt độ cao trong một số trường hợp có thể dẫn đến hiện tượng "tách pha". Tức nhiên liệu, nước tách riêng. 

Nước bốc hơi hoặc chuyển thành dạng khác. Dưới tác dụng nhiệt, áp suất, tạp chất có trong nhiên liệu biến dạng thành chất khó hòa tan và phân hủy hơn. Những chất này lơ lửng trong kim phun hoặc bám trên thành van điều áp. Dẫn đến kim phun bị tắc nghẽn, hư hỏng. Trường hợp này, nếu dùng phụ gia như cho động cơ EFI, kết quả có thể xấu thêm. Hay nói cách khác, động cơ GDI "nhạy cảm" với nhiên liệu hơn so với động cơ EFI.

Vì thế, sử dụng loại phụ gia đúng cho loại động cơ EFI và GDI là điều cần quan tâm hơn cả. Một điều chắc chắn rằng tạp chất nếu xuất hiện ở đầu kim phun khiến nhiên liệu cung cấp cho quá trình cháy diễn ra không đều. Xe không phát huy hết công suất, tức yếu đi. Mức độ nặng khi đầu kim phun nghẽn hoàn toàn.

Quá trình tích tụ lâu ngày dẫn đến hỏng, buộc phải thay thế. Biểu hiện rõ nhất là hiện tượng xe giật hoặc chết máy. Hơn nữa, khi một trong các kim phun bị bẩn, máy tính nhận biết lượng oxy không cháy hết ở hệ thống xả. Sau đó là tăng cường phun nhiên liệu ở các kim phun, dẫn đến tiêu hao nhiên liệu nhiều hơn.

Nếu sử dụng phụ gia, người dùng cần hiểu rõ động cơ của ôtô thuộc loại nào. Phụ gia là loại dùng cho động cơ EFI hay GDI, có tác dụng làm sạch tạp chất ở kim phun hay trong buồng đốt... Hoặc nhờ tư vấn từ những người có chuyên môn để biết nên và không nên sử dụng.

5. Liều lượng sử dụng của JASSO – BIORAY Multi Fuel Additive như thế nào ?

Tại Việt Nam, xăng dùng cho ô tô là RON 95 (tức chỉ số octane là 95) nên nhà sản xuất đề nghị dùng: ở mức 125 ml phụ gia pha cho 40 – 50 Lít nhiên liệu (xăng hoặc dầu). Ở thị trường nước ngoài, khi xe dùng xăng có RON 98 thì tỷ lệ pha có thể giảm xuống.

Trường hợp pha nhiều phụ gia hơn tỷ pha trên thì làm máy chạy bốc, mạnh hơn, đặc biệt thích hợp với các xe đã chạy lâu năm  (nhưng tỷ lệ pha tối đa không vượt  quá 30% lượng nhiên liệu).  

Các tin khác


Mua hàng thành công
facebook